Đối mặt với các vụ kiện chống phá giá: Sẽ phải học để tự bảo vệ mình

Doi mat voi cac vu kien chong pha gia Se phai hoc de tu bao ve minh
Vụ kiện chống bán phá giá cá ba sa đã làm ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ cá ba sa của VN. Trong ảnh: thu hoạch cá ba sa tại ĐBSCL – Ảnh: ĐỨC VỊNH

TT – Nhiều mặt hàng của VN đang đối diện với các cuộc điều tra bán phá giá. Sau cá, tôm tại thị trường Mỹ, giày mũ da và chốt cài bằng thép không gỉ tại thị trường Liên minh châu Âu, còn những mặt hàng nào có nguy cơ bị “nhòm ngó”? Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) liệu có giúp VN dễ xử lý hơn các vụ kiện này?TS trao đổi với ông JONATHAN PINCUS, chuyên gia kinh tế cao cấp của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP).

* Thưa ông, không chỉ VN mà các nước như Trung Quốc, Thái Lan cũng liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá. Đâu là lý do?

Doi mat voi cac vu kien chong pha gia Se phai hoc de tu bao ve minh
Ông JONATHAN PINCUS

– Các vụ kiện chống bán phá giá có lịch sử lâu đời trong các thỏa thuận thương mại của GATT (Hiệp định chung về thương mại và thuế quan), tiền thân của WTO và thậm chí trước khi GATT ra đời. Lúc nào cũng có các vụ kiện chống bán phá giá tồn tại. Vấn đề quan trọng nhất là liệu có một cơ chế công bằng để phán xét các vụ kiện này hay không.

Trong 20 vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng VN từ trước đến nay (riêng năm 2004 có sáu vụ), vụ kiện về cá da trơn (cá ba sa) và tôm là hai vụ có qui mô và phức tạp nhất. Khởi kiện nhiều nhất là EU (chín vụ), tiếp đến là Hoa Kỳ (hai vụ), Canada (hai vụ), còn lại là Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Peru…

Những mặt hàng bị kiện chủ yếu là thủy hải sản (hai vụ), nông sản thực phẩm, các mặt hàng liên quan đến kim loại (vòng khuyên kim loại, ôxit kẽm, xe đạp, ống thép, then chốt cửa bằng inox), bật lửa, đèn huỳnh quang, ván lướt sóng.

Theo các chuyên gia kinh tế, một trong những kinh nghiệm để tránh các vụ kiện bán phá giá là xây dựng chiến lược xuất khẩu cụ thể cho từng ngành hàng, tránh tạo tăng trưởng đột biến của một mặt hàng tại một thị trường nào đó.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp VN không nên “tự phá giá lẫn nhau” bằng cách liên tục hạ giá bán để giành khách hàng. Các doanh nghiệp cần tránh bẫy chi phí thấp (bằng nhân công rẻ) mà nên tăng hàm lượng công nghệ, tăng đào tạo để tạo cơ cấu giá thành xuất khẩu hợp lý.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một bước tiến so với GATT khi mà mọi thành viên đều tuân thủ theo cùng một luật chơi. Nhưng VN, Trung Quốc và các nước đang chuyển đổi khác có thể bị thiệt thòi bởi vì Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) đã đơn phương quyết định những nước này có “nền kinh tế phi thị trường”, vì thế giá cả tại những quốc gia này không được sử dụng trong các vụ chống bán phá giá. Do vậy, VN dự kiến sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều vụ kiện bán phá giá.* Theo ông, những mặt hàng nào có thể gặp rủi ro cao?

– Cho đến chừng nào VN vẫn còn bị xác định là nền kinh tế phi thị trường, chừng ấy các vụ kiện VN bán phá giá vẫn có thể diễn ra. Rất khó để biết trước lĩnh vực nào có thể bị ảnh hưởng. Hàng nội thất đồ gỗ có thể là ngành tiềm năng, nhưng xuất phát từ thực tế thị phần của VN về mặt hàng này còn tương đối nhỏ trong thị trường Mỹ và EU, do vậy chưa thể xảy ra ngay. Cà phê dường như không bị ảnh hưởng vì Mỹ và EU không trồng cà phê. Dệt may có vẻ sẽ chịu nhiều rủi ro nhất sau trường hợp điển hình của Trung Quốc, nhưng thật sự cũng chưa thể biết chắc chắn.

* Như vậy việc được công nhận là một nền kinh tế thị trường sẽ mang lại nhiều lợi thế khi đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá?

– Lợi thế chính khi được công nhận “nền kinh tế thị trường” là VN có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO khi đã trở thành thành viên WTO. Bằng cơ chế này, VN có thể đệ trình những bằng chứng chống lại các buộc tội VN phá giá và cũng có thể tuyên bố các nước khác bán phá giá tại thị trường VN. Cho đến khi VN chưa được công nhận là “nền kinh tế thị trường”, các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU không chấp nhận các dữ liệu từ VN để xem xét trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Đây hoàn toàn là hành động đơn phương từ Mỹ và EU, nhưng không may nó lại tuân thủ đúng theo luật của WTO.

Vấn đề là không có các luật lệ nào của WTO được quốc tế chấp nhận về việc tuyên bố một nước là phi thị trường hay thị trường. Do vậy trong thực tế Mỹ và EU có thể từ chối công nhận một nước là “kinh tế thị trường” hay “phi kinh tế thị trường” bao lâu tùy ý họ. Theo thỏa thuận gia nhập WTO của Trung Quốc, phía Mỹ được phép coi Trung Quốc có nền kinh tế phi thị trường trong thời gian 15 năm kể từ khi gia nhập. Như vậy trong 15 năm, Trung Quốc sẽ không được tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong các vụ kiện phá giá.

* Nhưng thưa ông, ngay cả khi đã được công nhận là nền kinh tế thị trường, có ý kiến cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cũng chưa đủ để giúp các nước tránh được các vụ kiện?

– Đúng là hầu hết trường hợp phá giá đệ trình lên cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đều do các nước giàu khởi xướng. Nhưng trong những năm gần đây, một vài quốc gia đang phát triển cũng đã thành công trong việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chống lại Mỹ và EU. Mọi người cũng không nên nghĩ rằng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một sân chơi bình đẳng. Qua thời gian, VN và các nước đang phát triển sẽ phải học để tự bảo vệ mình thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Điều này sẽ mất thời gian, nhưng không còn lựa chọn nào khác.

* Xin cảm ơn ông.

CẨM HÀ thực hiện

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s