Tiêu chuẩn ISO 9001 phiên bản 2008 có điều gì mới

   

Gần 1 triệu, hay nói chính xác hơn là 955.000 Tổ chức tại 170 quốc gia đã xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng của mình theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001 phiên bản 2000. Tiêu chuẩn này đã giúp cho các Tổ chức ở tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ kể cả quản lý hành chính với các quy mô khác nhau đã  đạt được kết quả rất khả quan, thông qua việc nâng cao sự thoả mãn của khách hàng, khích lệ tinh thần làm việc của cán bộ, công nhân viên và luôn hướng tới sự cải tiến thường xuyên, góp phần minh bạch hoá trong công việc, phòng chống tham nhũng, đồng thời cũng để dễ dàng trong việc quy trách nhiệm, tiện bề khen thưởng kỷ luật.

Đến nay, sau 8 năm áp dụng, sau khi soát xét, phiên bản mới đã ra đời,  phiên bản 2008.

Bắt đầu từ ngày 15 tháng 11 năm 2009, tất cả việc chứng nhận và tái chứng nhận sẽ tuân thủ theo tiêu chuẩn mới ISO 9001:2008. Tất cả các chứng chỉ ISO 9001:2000 sẽ hết hiệu lực từ ngày 14 tháng 11 năm 2010.

Tác giả của bài viết này đã có một loạt bài viết giới thiệu về tiêu chuẩn ISO 9001:2000  đăng trên tạp chí Người Xây dựng từ số 7 đến số 10 năm 2003 (1). Vì là một tiêu chuẩn áp dụng chung cho tất cả các Tổ chức thuộc mọi ngành nghề khác nhau, văn phong theo kiểu “Tây”, nên sẽ rất mơ hồ và khó hiểu cho những ai ít có thời gian nghiên cứu sâu về vấn đề này. Để trực tiếp phục vụ cho ngành xây dựng, tác giả đã lấy tiêu đề các bài viết của mình trong thời gian đó là “Tiêu chuẩn ISO 9001:2000 thực chất đòi hỏi gì ở các doanh nghiệp xây dựng”.

Để giúp độc giả nhớ lại một số khái niệm về Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL), tác giả xin được lưu ý vắn tắt như sau:

1- Mô hình về hoạt động chất lượng

Trong lịch sử phát triển sản xuất của loài người, chất lượng sản phẩm và dịch vụ không ngừng tăng lên theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Tuỳ theo quan điểm và cách nhìn nhận xem xét mà các nhà khoa học về chất lượng chia quá trình phát triển chất lượng thành các giai đoạn khác nhau với 5 mô hình cơ bản sau:

– Mô hình thứ nhất: ‘Kiểm tra sản phẩm (Product Inspection).

– Mô hình thứ hai: “ Kiểm soát chất lượng” (Quality Control).

– Mô hình thứ ba: Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance).

– Mô hình thứ tư: Quản lý chất lượng (Quality Management).

– Mô hình thứ năm:Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management- TQM)

2- Tám nguyên tắc của Quản lý chất lượng

– Hướng vào khách hàng.

– Vai trò của lãnh đạo.

– Sự tham gia của mọi người.

– Cách tiếp cận theo quá trình.

– Cách tiếp cận theo hệ thống đối với quản lý.

– Cải tiến liên tục.

– Quyết định dựa trên sự kiện.

– Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.

Tám nguyên tắc quản lý chất lượng này tạo thành cơ sở cho các tiêu chuẩn về HTQLCL trong bộ ISO 9000

3- Bộ tiêu chuẩn ISO 9000

Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống chất lượng được xây dựng dựa trên triết lý: “Nếu hệ thống sản xuất và quản lý tốt thì sản phẩm và dịch vụ mà hệ thống đó sản xuất ra sẽ tốt”.

Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 phiên bản 2000 gồm 4 tiêu chuẩn:

1- ISO 9001 : 2000 HTQLCL – Các yêu cầu (Đây là lần soát xét thứ 2, tiêu chuẩn này thay thế cho 3 tiêu chuẩn ISO 9001, ISO 9002, ISO 9003 phiên bản năm 1994- soát xét lần 1) 

2- ISO 9000 : 2000 HTQLCL Cơ sở và từ vựng.

3- ISO 9004 : 2000 HTQLCL Hướng dẫn cải tiến.

4- ISO 19011: 2002  Hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và/ hoặc Hệ thống quản lý môi trường.

Từ năm 2000 đến nay qua hơn 8 năm, ta xem sự soát xét của Bộ tiêu chuẩn này như thế nào?

1- ISO 9001 : 2008 HTQLCL – Các yêu cầu (soát xét sau 8 năm- chậm 3 năm theo quy định).

2- ISO 9000 : 2005 HTQLCL Cơ sở và từ vựng (soát xét sau 5 năm – đúng hạn theo quy định).

3- ISO 9004 : 2000 HTQLCL Hướng dẫn cải tiến (dự kiến 2009 soát xét xong).

4- ISO 19011: 2002  Hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và/ hoặc Hệ thống quản lý môi trường (đang trong quá trình soát xét).

Trên đây là những nét khái quát về bộ tiêu chuẩn ISO 9000.

Nội dung chủ yếu của bài này là giới thiệu về những thay đổi về tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000 khi được chuyển sang phiên bản 2008, ISO 9001 : 2008.

Có thể khẳng định rằng: phiên bản 2008 không có một yêu cầu nào mới so với phiên bản 2000 mà  chỉ làm rõ hơn, sáng tỏ hơn những yêu cầu của phiên bản 2000. Trải qua 8 năm kinh nghiệm khi áp dụng, thực hiện yêu cầu của tiêu chuẩn của gần 1 triệu Tổ chức tại 170 nước, đã nảy sinh ra nhiều vấn đề, có thể nói đó là những thắc mắc của các Tổ chức trong quá trình áp dụng cần có được sự giải thích rõ ràng, cần được mở rộng diện áp dụng. Đồng thời sự thay đổi này hướng tới ý tưởng cải thiện và tiếp cận với tiêu chuẩn về Môi trường ISO 14001:2004.

Phiên bản 2008 có điều gì mới

Có 12 nội dung chính bổ sung, giải thích tại phiên bản 2008:

 

1)Trong lời giới thiệu phiên bản 2008 có đề cập đến khái niệm môi trường kinh doanh nhằm để nhấn mạnh HTQLCL nên được áp dụng cho tất cả quá trình kinh doanh và mở rộng cho tất cả các lãnh vực không trực tiếp liên quan đến việc tạo ra sản phẩm. Khái niệm rủi ro cũng được các Tổ chức phải chú ý. Rủi ro bao gồm sự không thoả mãn của khách hàng, hay có thể có tác động đến khách hàng, vì thế rủi ro cần phải được tính đến trong quá trình thiết lập HTQLCL.Trước đây khi thiết lập HTQLCL hầu như loại phòng Tài chính, Kế toán ra khỏi hệ thống này, nay cần phải quan tâm hơn hoạt động của hệ tài chính kế toán.

2) Mục phạm vi: Có bổ sung từ pháp luật (Statutory) bên cạnh từ chế định (Regulatory). Điều này cho thấy, các Tổ chức ngoài việc thực hiện các chế định còn phải tuân thủ pháp luật của địa phương của quốc gia có liên quan.

3) Nguồn bên ngoài (4.1): Kiểm soát các quá trình thuê nguồn lực từ bên ngoài, yêu cầu Tổ chức phải có biện pháp kiểm soát. Ví dụ như thuê giảng viên đào tạo, cần phải nắm rõ trình độ kinh nghiệm của giảng viên, giáo trình giáo án, phương pháp giảng dạy, thời lượng, thông tin phản hồi kết quả học tập của học viên… Điều này cần được ghi rõ trong hợp đồng giảng dạy…

4) Hệ thống tài liệu (4.2.1) : Hồ sơ được coi là tài liệu. Tất cả các yêu cầu đối với tài liệu thì đó cũng là yêu cầu đối với hồ sơ.

5) Đại diện lãnh đạo(5.5.2): trước đây đại diện của lãnh đạo thường là Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, bây giờ cũng vậy, nhưng tiêu chuẩn phiên bản mới khuyên rằng người này nên là người trong biên chế của Tổ chức, không nên thuê ngoài. Quy định này nhằm ngăn ngừa việc sử dụng các đơn vị bên ngoài, như tư vấn thực hiện vai trò đại diện lãnh đạo, nó sẽ làm giảm tính hiệu quả của HTQLCL, vì người này thường “ không ăn đời ở kiếp với Tổ chức”… nhất là khi họ chỉ ký hợp đồng có thời hạn với Tổ chức.

6) Nguồn nhân lực (6.2.1,6.2.2) . Phiên bản cũ chỉ áp dụng đến những người thực hiện công việc ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm, nhưng phiên bản mới mở rộng ra tới tất cả những người có thể làm ảnh hưởng đến “sự phù hợp của sản phẩm đến với các yêu cầu” Phiên bản mới cũng yêu cầu phải xác định năng lực cần thiết của những người thực hiện những công việc ảnh hưởng đến “sự phù hợp của sản phẩm đến với các yêu cầu” Những người làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hoá là một ví dụ, họ có thể làm giảm phẩm cấp nguyên vật liệu nhập và làm hư hỏng hàng hoá trong quá trình giao cho khách hàng.

7) Cơ sở hạ tầng(6.3) : Hệ thống thông tin nên được coi là một phần của cơ sở hạ tầng để đảm bảo các thoả mãn về sản phẩm và dịch vụ sẽ được thực hiện.

8) Môi trường làm việc(6.4). Chú thích thuật ngữ môi trường làm việc liên quan đến những điều kiện làm việc trong quá trình tạo sản phẩm bao gồm điều kiện vật  lý, sự chật hẹp, và những sự cưỡng bức như tiếng ồn, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng hoặc các điều kiện khí hậu.

9) Nhận dạng và truy cập nguồn gốc sản phẩm (7.5.3) Việc nhận biết tình trạng của sản phẩm cần được lưu giữ xuyên suốt quá trình hình thành sản phẩm . Cần thiết lập các quá trình ở những giai đoạn khác nhau trong quá trinh hình thành sản phẩm để đảm bảo nhận biết và xác định được tình trạng của sản phẩm.

10) Đánh giá nội bộ (8.2.2) Nội dung này được bổ sung việc quy định trách nhiệm của lãnh đạo bộ phận được đánh giá phải thực hiện “việc sửa chữa các hành động khắc phục cần thiết”. Phiên bản cũ  yêu cầu chỉ thực hiện các hành động nhưng không nói rõ hành động gì họ cần làm sau khi đánh giá nội bộ. Đặc biệt là phải làm gì để đảm bảo nó sẽ không tái diễn sau khi đã có hành động khắc phục.

11) Kiểm soát sản phẩm không phù hợp(8.3) Mục này cho phép các Tổ chức được linh hoạt hơn trong việc xử lý các sản phẩm không phù hợp so với phiên bản cũ.

12) Hành động khắc phục và hành động phòng ngừa(8.5.2 & 8.5.3) Bổ sung yêu cầu xem xét tính hiệu lực của hành động khắc phục và phòng ngừa đã thực hiện.

Ngoài những bổ sung, giải thích đã nêu trên, tại phiên bản 2008 còn có mở rộng, giải thích, bổ sung và làm rõ hơn một số từ, cụm từ như ở các mục 4.1;7.2.1;7.3.1;7.3.3;7.5.1; 7.5.2;7.5.4;7.6;8.2.3…

Kết luận: Khác hẳn với lần soát xét trước (2000), lần soát xét này, như đã nêu trên, tiêu chuẩn ISO 9001 phiên bản 2008 đã không đưa ra yêu cầu mới và cũng không làm đảo lộn  cấu trúc của bản tiêu chuẩn cũ cho nên rất thuận lợi và dễ dàng cho nhận thức, cho việc tái chứng nhận cho các Tổ chức đã nhận được chứng chỉ trước đây. Đương nhiên việc cấp giấy chứng chỉ mới phải đảm bảo tinh thần của phiên bản mới, phải rà soát thêm theo các chi tiết đã nêu ở trên và như vậy có nghĩa là đã nâng HTQLCL ở một cấp cao hơn.

 

 

(1) KS Nguyễn Xuân Hải, chuyên gia về lĩnh vực xây dựng HTQLCL theo tiêu chuẩn quốc tế, là tác giả của cuốn sách “Xây dựng và vận hành HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 cho các doanh nghiệp xây dựng ( NXB Xây dựng 2004) -LTS

(KS. Nguyễn Xuân Hải)
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s